Những sai phạm thường gặp khi phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ

Với việc thị trường trái phiếu doanh nghiệp (“TPDN”) riêng lẻ tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây, khung pháp lý về phát hành TPDN ngày càng được thắt chặt và hoàn thiện, đảm bảo tính công khai, minh bạch và giảm thiểu rủi ro của thị trường. Ngày 12/02/2026, Thanh tra Chính phủ (“TTCP”) đã ban hành Thông báo số 392/TB-TTCP về Kết luận thanh tra việc chấp hành chính sách pháp luật về phát hành TPDN riêng lẻ và sử dụng nguồn tiền từ TPDN riêng lẻ (“Thông Báo 392”).

Thông Báo 392 cung cấp kết quả thanh tra đối với 26 tổ chức phát hành (“TCPH”) hoạt động trong nhiều lĩnh vực như bất động sản, năng lượng, thương mại dịch vụ, kinh doanh chứng khoán, sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực khác trong giai đoạn từ ngày 01/01/2019 đến ngày 30/11/2024, với tổng giá trị TPDN đã phát hành trong giai đoạn này là gần 120.000 tỷ đồng. Kết luận thanh tra cho thấy hiện vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập trong cơ chế và chính sách phát hành TPDN, và Chính phủ đang trong quá trình dự thảo nghị định thay thế Nghị định 153/2020 quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế, nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế, vướng mắc và bất cập trong quá trình triển khai thực tế, tăng cường sự quản lý nhà nước đối với thị trường TPDN.

Bài viết này sẽ đề cập đến một số sai phạm phổ biến được nêu tại Thông Báo 392 của các TCPH khi phát hành TPDN riêng lẻ nhằm đưa ra một số lưu ý trong quá trình phát hành và sử dụng nguồn vốn huy động.

Các lưu ý đối với hồ sơ TPDN trong từng giai đoạn phát hành

Các quy định liên quan đến việc đáp ứng điều kiện chào bán, chuẩn bị hồ sơ và nghĩa vụ công bố thông tin (“CBTT”) áp dụng đối với TCPH đòi hỏi tính chính xác, đầy đủ và kịp thời cả trước và sau khi phát hành và chào bán TPDN. Để thực hiện nghĩa vụ CBTT cho Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (“HNX”) theo hình thức văn bản điện tử[1], TCPH cần thực hiện qua tài khoản sử dụng chuyên trang thông tin TPDN được đăng ký trên website[2] hoặc nộp hồ sơ đăng ký trực tiếp tại HNX. Một số vi phạm liên quan được phát hiện và đề cập tại Thông Báo 392 như sau:

1.1. Giai đoạn trước khi phát hành TPDN

a. Không nộp thông báo phát hành TPDN: TPDN khi phát hành cần phải tuân thủ quy định pháp luật áp dụng tại thời điểm hiện hành, cụ thể đối với các TPDN phát hành theo Nghị định 90/2011 (hết hạn ngày 01/12/2019), TCPH phải nộp thông báo và đăng ký phát hành TPDN cho Bộ Tài chính[3]. Tuy nhiên theo quy định tại Điều 53 Nghị định 156/2020[4], TCPH được áp dụng quy định theo Nghị định mới ban hành do hành vi vi phạm này đã bị loại bỏ[5] và không có quy định trách nhiệm pháp lý.

b. Vi phạm nghĩa vụ CBTT trước khi phát hành: Nhiều TCPH công bố thông tin trước phát hành chưa đầy đủ các nội dung bắt buộc như: mục đích phát hành, thời điểm giải ngân nguồn vốn, ngày dự kiến phát hành hoặc thông tin về tài sản bảo đảm. Một số TCPH chậm công bố thông tin trước đợt chào bán trong thời hạn quy định, thậm chí có trường hợp không công bố phương án phát hành.

1.2. Giai đoạn sau khi phát hành TPDN

a. Không thực hiện CBTT kết quả chào bán: TCPH có nghĩa vụ trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán TPDN thực hiện công bố thông tin về kết quả của đợt chào bán cho các nhà đầu tư sở hữu trái phiếu và gửi nội dung công bố thông tin đến Sở giao dịch chứng khoán[6].

b. Vi phạm nghĩa vụ CBTT định kỳ và bất thường: Nhiều TCPH không thực hiện công bố thông tin kết quả phát hành hoặc hoàn toàn không CBTT định kỳ (bán niên, hàng năm) về báo cáo tài chính, tình hình sử dụng vốn, tình hình thanh toán gốc/lãi và việc thực hiện cam kết với trái chủ. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng chậm trễ hoặc bỏ sót việc CBTT bất thường khi xảy ra các sự kiện như: chậm thanh toán gốc/lãi, mua lại trái phiếu trước hạn, thay đổi tài sản bảo đảm hoặc sửa đổi các điều khoản, điều kiện của trái phiếu.

c. CBTT không chính xác: Một số TCPH công bố thông tin sai lệch so với thực tế kiểm tra về thời gian mua lại trái phiếu trước hạn hoặc tình hình sử dụng nguồn vốn đã được kiểm toán.

2. Chấp hành các quy định sau khi phát hành TPDN

Sau khi phát hành thành công TPDN, TCPH phải thực hiện các thủ tục đăng ký, lưu ký, quản lý tài sản đảm bảo và hoàn thành nghĩa vụ thanh toán với người sở hữu trái phiếu nhằm bảo đảm an toàn cho thị trường. Một số vi phạm liên quan được phát hiện liên quan đến về việc chấp hành các quy định sau khi phát hành TPDN đề cập tại Thông Báo 392 như sau:

a. Chậm đăng ký, lưu ký tại VSDC: Theo quy định tại Điều 15.1 Nghị định 153/2020, TCPH có nghĩa vụ đăng ký TPDN tại Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC) trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày CBTT về kết quả chào bán TPDN. Một số TCPH chưa thực hiện đăng ký, lưu ký trái phiếu tập trung tại hệ thống của VSDC hoặc HNX hoặc thực hiện không đúng thời hạn quy định.

b. Không có phương án mua lại trái phiếu trước hạn: Căn cứ theo Điều 7.2 Nghị định 153/2020, phương án mua lại trái phiếu trước hạn phải được cấp có thẩm quyền của TCPH phê duyệt là cấp có thẩm quyền đã phê duyệt, chấp thuận phương án phát hành TPDN.

c. Sai phạm về biện pháp đảm bảo cho TPDN: Một số TCPH thiếu tài sản đảm bảo so với thông tin đã công bố, chưa thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc phong tỏa tài sản là cổ phiếu/cổ phần. Nhiều trường hợp tài sản đảm bảo không đủ điều kiện thế chấp, không duy trì đủ tỷ lệ bảo đảm tối thiểu theo cam kết hoặc không bổ sung tài sản theo yêu cầu tại nghị quyết của người sở hữu trái phiếu.

d. Chậm trả và không thanh toán được nợ đến hạn: Hiện có 03 TCPH là Công ty Cổ phần Hưng Thịnh Investment, Công ty Cổ phần Dịch vụ giải trí Hưng Thịnh Quy Nhơn và Công ty Cổ phần Hưng Thịnh Land, hoàn toàn mất khả năng thanh toán, để nợ gốc và lãi quá hạn từ năm 2023 lên đến hàng nghìn tỷ đồng, gây rủi ro đổ vỡ lớn cho hệ thống, ảnh hưởng đến thị trường vốn và thiệt hại cho hàng nghìn nhà đầu tư cá nhân.

3. Nguyên tắc quản lý và sử dụng nguồn vốn trái phiếu

Theo quy định, TCPH có trách nhiệm quản lý và sử dụng vốn thu được từ phát hành TPDN riêng lẻ theo đúng phương án phát hành đã được phê duyệt và công bố[7]. Một số vi phạm liên quan được phát hiện và đề cập tại Thông Báo 392 như sau:

a. Sử dụng vốn sai mục đích: Có tới 14 TCPH bị phát hiện sử dụng số tiền thu được từ phát hành trái phiếu không đúng với phương án phát hành đã được phê duyệt hoặc thông tin đã công bố cho nhà đầu tư, trong đó có TCPH đã tự ý thay đổi mục đích sử dụng vốn trước khi được Hội nghị người sở hữu trái phiếu thông qua bằng nghị quyết theo quy định[8].

b. Không thực hiện quản lý, giám sát việc sử dụng vốn: Một số TCPH sử dụng tiền trái phiếu chuyển cho đối tác theo các hợp đồng hợp tác đầu tư hoặc bổ sung vốn cho công ty con nhưng hoàn toàn không cung cấp được tài liệu chứng minh việc kiểm tra, giám sát và quản lý mục đích sử dụng nguồn vốn này[9].

c. Vi phạm quy trình phát hành TPDN và sử dụng vốn: Một số TCPH thực hiện thu và sử dụng tiền trái phiếu trước ngày phát hành chính thức; sử dụng tiền thu được từ trái phiếu để đặt cọc nhận chuyển nhượng cổ phần/góp vốn từ năm 2021 nhưng kéo dài nhiều năm không thực hiện; hoặc số tiền sử dụng thanh toán vượt giá trị hợp đồng.

d. Chương trình, dự án đầu tư chưa đủ điều kiện pháp lý: TCPH dùng tiền trái phiếu đặt cọc hoặc hợp tác kinh doanh vào các dự án bất động sản khi các dự án này chưa đủ điều kiện huy động vốn theo quy định.

e. Sử dụng vốn tạm thời nhàn rỗi sai quy định: Việc TCPH đem tiền trái phiếu đi cho vay hoặc gửi ngân hàng trước khi sử dụng vào mục đích của phương án phát hành bị coi là vi phạm, mặc dù dự thảo nghị định sửa đổi Nghị định 153/2020 hiện đang xem xét cho phép TCPH gửi tiền nhàn rỗi hoặc mua chứng chỉ tiền gửi trước khi giải ngân tiền từ trái phiếu theo tiến độ được phê duyệt.

4. Một số nội dung khác

Từ các sai phạm được chỉ ra tại Thông Báo 392, TTCP đã đưa ra các kiến nghị xử lý nghiêm khắc. Cụ thể, TTCP kiến nghị Bộ Tài chính chỉ đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội tiến hành kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính đối với các TCPH sai phạm; yêu cầu các đơn vị này công bố thông tin đính chính, bổ sung và khẩn trương thanh toán nợ đến hạn cho trái chủ.

Đặc biệt, do tính chất phức tạp của các vi phạm trong việc sử dụng vốn và rủi ro đổ vỡ lớn, TTCP đã chuyển thông tin sai phạm của 03 công ty (bao gồm: Công ty Cổ phần Hưng Thịnh Land, Công ty Cổ phần Hưng Thịnh Investment và Công ty Cổ phần Dịch vụ giải trí Hưng Thịnh Quy Nhơn) sang Bộ Công an để xem xét, xử lý theo thẩm quyền.

Các sai phạm từ Thông Báo 392 cho thấy tính cấp bách của việc tuân thủ các quy định về mục đích phát hành, quản lý dòng tiền và nghĩa vụ thông tin. Các TCPH cần phải lưu ý:

a. Đảm bảo đáp ứng đầy đủ các điều kiện phát hành và nghị quyết phê duyệt phương án phát hành cần được xây dựng rõ ràng, chặt chẽ;

b. Tuân thủ nghiêm ngặt thời hạn và nội dung CBTT trước phát hành, xây dựng hệ thống theo dõi lịch CBTT để thực hiện đầy đủ, chính xác, đúng hạn các báo cáo kết quả phát hành, báo cáo định kỳ (06 tháng, hàng năm) và các báo cáo bất thường khi có biến động về nghĩa vụ nợ hoặc tài sản đảm bảo;

c. Tuyệt đối sử dụng nguồn tiền thu được đúng phương án phát hành và nội dung đã công bố và thực hiện quản lý, giám sát việc sử dụng nguồn tiền từ trái phiếu đúng theo quy định, đồng thời chỉ giải ngân hợp tác vào các dự án đã đủ điều kiện huy động vốn theo pháp luật.

———

[1] Điều 6.2 Thông tư 76/2024/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 06/11/2024 hướng dẫn chế độ công bố bố thông tin và chế độ báo cáo về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế.

[2] https://cbonds.hnx.vn/dang-ky-tai-khoan-chuyen-trang

[3] Điều 30.1 Nghị định số 90/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/10/2011 về phát hành trái phiếu doanh nghiệp (đã hết hiệu lực vào ngày 01/12/2019) (“Nghị định 90/2011”).

[4] Nghị định số 156/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31/12/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán, được sửa đổi bỏ sung tùy từng thời điểm (“Nghị định 156/2020”).

[5] Điều 2 Nghị định số 128/2021/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 20/12/2021 sửa đổi, bổ sung Nghị định 156/2020.

[6] Điều 20.1 Nghị định số 153/2020/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 31/12/2020 quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế, được sửa đổi bổ sung tại từng thời điểm (“Nghị định 153/2020”).

[7] Điều 5 Nghị định 153/2020.

[8] Điều 2 Nghị định số 08/2023/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05/03/2023 sửa đổi, bổ sung Nghị định 153/2020.

[9] Điều 34.2 Nghị định 153/2020.

 

Quyền miễn trừ trách nhiệm: Bài viết này được chuẩn bị bởi Công ty Luật TNHH PTN (“PTN Legal”) chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin tham khảo cho người đọc. PTN Legal không cam kết hay đảm bảo về tính chính xác hay đầy đủ của các thông tin này. Nội dung của bài viết có thể được thay đổi, điều chỉnh, hoặc cập nhật mà không cần báo trước. PTN Legal không chịu trách nhiệm về bất kỳ lỗi hoặc thiếu sót nào trong bài viết này hoặc thiệt hại phát sinh từ việc sử dụng bài viết này trong bất kỳ trường hợp nào. Nếu người đọc có nhu cầu được nhận bài viết của PTN Legal qua email, vui lòng đăng ký thông tin tại đây.

 

Bài viết được thực hiện bởi Luật sư Quách Mai Phương