Ngày 31/7/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (“NHNN”) đã ban hành Thông tư số 38/2026/TT-NHNN quy định về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (“Thông Tư 38”). Thông Tư 38 có hiệu lực từ ngày 18/8/2026, thay thế toàn bộ Thông tư số 06/2019/TT-NHNN (“Thông Tư 06”) và làm hết hiệu lực các quy định sửa đổi, bổ sung Thông Tư 06 tại Thông tư số 03/2025/TT-NHNN (“Thông Tư 03”), qua đó thay thế khung quy định trước đây về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
Thông Tư 38 được ban hành trong bối cảnh khung pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có nhiều thay đổi, đồng thời bổ sung cơ chế quản lý ngoại hối đối với một số mô hình và hoạt động đầu tư mới. So với khung quy định trước đây, Thông Tư 38 có một số thay đổi đáng chú ý liên quan đến việc mở và sử dụng tài khoản vốn đầu tư, trình tự góp vốn, việc sử dụng vốn và lợi nhuận để tiếp tục đầu tư tại Việt Nam, cũng như cơ chế quản lý dòng tiền đối với hoạt động đầu tư từ Trung tâm tài chính quốc tế và hoạt động dầu khí.
Trên cơ sở đó, bài viết này cập nhật và phân tích một số thay đổi đáng chú ý của Thông Tư 38, đồng thời làm rõ một số tác động thực tiễn đối với nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
1. Mở rộng phạm vi điều chỉnh và cập nhật tiêu chí xác định đối tượng mở Tài Khoản Vốn Đầu Tư
Thông Tư 38 đã thay thế thuật ngữ “tài khoản vốn đầu tư trực tiếp” và “tài khoản vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài” tại các thông tư của NHNN bằng thuật ngữ “tài khoản vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” (“Tài Khoản Vốn Đầu Tư”)[1]. Đồng thời, so với Thông Tư 06 vốn chỉ quy định về hoạt động “đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam”, Thông Tư 38 xác định phạm vi điều chỉnh rộng hơn là “hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”. Tuy nhiên, việc mở rộng này chủ yếu mang tính thuật ngữ. Thông Tư 38 tiếp tục loại trừ khỏi phạm vi điều chỉnh tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là công ty đại chúng có cổ phiếu niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán, cũng như hoạt động đầu tư, giao dịch chứng khoán trên thị trường chứng khoán[2].
Điểm mở rộng thực chất về phạm vi điều chỉnh là việc Thông Tư 38 bổ sung hoạt động đầu tư từ Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam vào phần còn lại của Việt Nam[3]. Về đối tượng áp dụng, Thông Tư 38 đồng thời bổ sung người điều hành và nhà thầu là nhà đầu tư nước ngoài trong các hợp đồng dầu khí và các văn bản thỏa thuận trong lĩnh vực dầu khí[4].
Đối với tiêu chí xác định tổ chức kinh tế thuộc diện phải mở Tài Khoản Vốn Đầu Tư, Thông Tư 06 trước đây xác định doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong một số trường hợp, trên cơ sở nhà đầu tư nước ngoài sở hữu từ 51% vốn điều lệ trở lên[5]. Tuy nhiên, Thông Tư 03 (có hiệu lực từ ngày 16/06/2025) đã sửa đổi ngưỡng này thành “trên 50% vốn điều lệ” và tương ứng sửa điều kiện đóng tài khoản vốn đầu tư trực tiếp từ trường hợp tỷ lệ sở hữu nước ngoài “xuống dưới 51%” thành “bằng hoặc dưới 50%”[6]. Thông Tư 03 cũng quy định thời hạn 12 tháng để doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu nước ngoài trên 50% nhưng dưới 51% chuyển sang sử dụng tài khoản vốn đầu tư trực tiếp[7].
Để thống nhất với quy định này tại Thông Tư 03, Thông Tư 38 tiếp tục quy định ngưỡng trên 50% để xác định trường hợp tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thuộc diện mở Tài Khoản Vốn Đầu Tư, đồng thời sử dụng ngưỡng bằng hoặc dưới 50% để xác định trường hợp phải đóng tài khoản[8]. Đáng chú ý, Thông Tư 38 áp dụng cơ chế này không chỉ đối với tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài mà còn đối với doanh nghiệp thành viên trong Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam (“Doanh Nghiệp Thành Viên”) khi đầu tư vào phần còn lại của Việt Nam. Cách tiếp cận này phù hợp với quy định tại Nghị Định 329, theo đó, Nghị Định 329 yêu cầu Doanh Nghiệp Thành Viên khi thực hiện hoạt động đầu tư từ Trung tâm tài chính vào phần còn lại của Việt Nam phải tuân thủ các quy định về quản lý ngoại hối như đối với nhà đầu tư nước ngoài[9].
Ngoài tiêu chí về tỷ lệ sở hữu nêu trên, Thông Tư 38 còn điều chỉnh tiêu chí xác định tổ chức kinh tế thuộc diện mở Tài Khoản Vốn Đầu Tư. Cụ thể, Thông Tư 06 định nghĩa doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là doanh nghiệp được thành lập theo hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế và phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (“IRC”)[10]. Thông Tư 38 đã bỏ điều kiện “phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư”, chỉ còn yêu cầu tổ chức kinh tế được nhà đầu tư nước ngoài hoặc Doanh Nghiệp Thành Viên thành lập theo quy định của pháp luật về đầu tư[11]. Thay đổi này phù hợp với cơ chế cho phép tổ chức kinh tế được thành lập và mở Tài Khoản Vốn Đầu Tư trước khi được cấp IRC như được trình bày tại Mục 2 dưới đây.
2. Cho phép tổ chức kinh tế được thành lập trước IRC mở Tài Khoản Vốn Đầu Tư
Luật Đầu tư 2025 và Nghị Định 96 đã bổ sung cơ chế cho phép nhà đầu tư nước ngoài đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật thành lập tổ chức kinh tế trước khi thực hiện thủ tục cấp hoặc điều chỉnh IRC[12]. Tuy nhiên, Thông Tư 06 chưa có quy định cho phép tổ chức kinh tế được thành lập theo trình tự này mở tài khoản vốn đầu tư trực tiếp để nhận vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài trong giai đoạn trước khi được cấp hoặc điều chỉnh IRC.
Để bảo đảm cơ chế này có thể được triển khai trên thực tế, Thông Tư 38 đã bổ sung quy định cho phép tổ chức kinh tế được thành lập theo trình tự nêu trên mở 01 Tài Khoản Vốn Đầu Tư bằng ngoại tệ và/hoặc 01 Tài Khoản Vốn Đầu Tư bằng đồng Việt Nam tại cùng một ngân hàng được phép trước khi được cấp hoặc điều chỉnh IRC[13]. Trong giai đoạn trước khi được cấp IRC, tài khoản này chỉ được sử dụng để[14]:
(i) nhận vốn điều lệ và tiền lãi từ số dư trên tài khoản;
(ii) thanh toán các chi phí hợp pháp liên quan đến hoạt động chuẩn bị đầu tư tại Việt Nam; và
(iii) hoàn trả vốn cho nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp thành viên nếu không được cấp hoặc điều chỉnh IRC
Sau khi được cấp hoặc điều chỉnh IRC, tổ chức kinh tế được sử dụng Tài Khoản Vốn Đầu Tư đã mở để thực hiện đầy đủ các giao dịch thu, chi theo Thông Tư 38[15].
Cần lưu ý rằng việc cho phép chuyển tiền vào Việt Nam để phục vụ hoạt động chuẩn bị đầu tư không phải là cơ chế hoàn toàn mới. Trước đây, Thông Tư 06 đã cho phép nhà đầu tư nước ngoài, trước khi được cấp IRC hoặc các giấy tờ đầu tư tương ứng, chuyển tiền từ nước ngoài hoặc từ tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ hoặc đồng Việt Nam của chính nhà đầu tư tại ngân hàng được phép để thanh toán các chi phí hợp pháp trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư[16]. Điểm mới của Thông Tư 38 nằm ở việc, đối với trường hợp tổ chức kinh tế đã được thành lập trước IRC và đã mở Tài Khoản Vốn Đầu Tư theo cơ chế nêu trên, dòng tiền phục vụ hoạt động chuẩn bị đầu tư phải được thực hiện thông qua chính Tài Khoản Vốn Đầu Tư đó[17].
Song hành với cơ chế nêu trên, Thông Tư 38 đã bổ sung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (“ERC”) vào danh mục tài liệu làm cơ sở cho việc góp vốn[18]. Thông Tư 06 trước đây chưa liệt kê rõ ERC trong các tài liệu này mà chỉ quy định cụ thể IRC, Giấy phép thành lập và hoạt động theo pháp luật chuyên ngành, Thông báo về việc đáp ứng điều kiện góp vốn, mua cổ phần, mua lại phần vốn góp, hợp đồng PPP và các tài liệu khác chứng minh việc góp vốn phù hợp với quy định của pháp luật. Sự thay đổi này tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn để ngân hàng tiếp nhận vốn góp đối với tổ chức kinh tế đã được thành lập và có ERC nhưng chưa được cấp IRC, phù hợp với cơ chế cho phép mở và sử dụng Tài Khoản Vốn Đầu Tư trước IRC theo Thông Tư 38.
3. Cho phép chuyển tiền góp vốn trước khi hoàn tất thủ tục đăng ký thay đổi vốn điều lệ
Thông Tư 06 quy định việc góp vốn bằng tiền phải được thực hiện thông qua tài khoản vốn đầu tư trực tiếp và phù hợp với mức vốn góp được ghi nhận tại các tài liệu đầu tư có liên quan[19]. Tuy nhiên, Thông Tư 06 chưa có quy định rõ ràng xác định việc chuyển tiền góp vốn phải được thực hiện trước hay sau khi tổ chức kinh tế hoàn tất thủ tục đăng ký tăng vốn điều lệ. Sự thiếu rõ ràng này dẫn đến cách hiểu và thực tiễn áp dụng chưa thống nhất tại các ngân hàng; trong một số trường hợp, ngân hàng yêu cầu tổ chức kinh tế phải hoàn tất thủ tục đăng ký tăng vốn và cung cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (“ERC”) đã cập nhật trước khi cho phép nhà đầu tư chuyển tiền góp vốn.
Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng cách hiểu này chưa thực sự phù hợp với trình tự đăng ký tăng vốn theo pháp luật doanh nghiệp. Về nguyên tắc, pháp luật doanh nghiệp được thiết kế theo hướng việc góp vốn hoặc thanh toán tiền mua cổ phần được thực hiện trước, sau đó doanh nghiệp mới thực hiện thủ tục đăng ký cập nhật vốn điều lệ và được cấp ERC tương ứng. Cụ thể, theo Luật Doanh Nghiệp 2020, doanh nghiệp có trách nhiệm đăng ký thay đổi nội dung ERC trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có thay đổi[20]; riêng đối với công ty cổ phần tăng vốn thông qua chào bán cổ phần, công ty phải đăng ký thay đổi vốn điều lệ trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hoàn thành đợt bán cổ phần[21]. Bên cạnh đó, theo Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp (“Nghị Định 168”), hồ sơ đăng ký tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp phải bao gồm giấy tờ chứng minh việc góp vốn, mua cổ phần đã được thanh toán tương ứng với phần vốn điều lệ đăng ký tăng[22].
Trên cơ sở đó, Thông Tư 38 đã làm rõ trình tự này về phương diện quản lý ngoại hối khi quy định nhà đầu tư nước ngoài và Doanh Nghiệp Thành Viên được chuyển tiền vào Tài Khoản Vốn Đầu Tư để góp vốn, thay đổi phần vốn góp hoặc thay đổi tỷ lệ phần vốn góp trước khi tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục đăng ký tăng vốn điều lệ, thay đổi phần vốn góp hoặc tỷ lệ phần vốn góp[23].
Quy định mới này xác nhận rõ việc chuyển tiền góp vốn trước khi hoàn tất thủ tục đăng ký thay đổi vốn là một trình tự được phép, qua đó giúp thống nhất hơn giữa quy định về quản lý ngoại hối và trình tự đăng ký tăng vốn theo pháp luật doanh nghiệp, đồng thời tháo gỡ cách hiểu trước đây theo hướng tổ chức kinh tế phải có ERC cập nhật trước thì ngân hàng mới được phép tiếp nhận tiền góp vốn.
4. Hoàn thiện cơ chế góp vốn bằng nhiều loại đồng tiền
Theo Thông Tư 06, trường hợp nhà đầu tư sử dụng nhiều loại ngoại tệ để góp vốn, tương ứng với mỗi loại ngoại tệ được sử dụng, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc nhà đầu tư nước ngoài được mở 01 tài khoản vốn đầu tư trực tiếp bằng loại ngoại tệ đó tại cùng một ngân hàng được phép[24]. Theo đó, việc cho phép góp vốn bằng nhiều loại ngoại tệ không phải là cơ chế mới được đưa ra tại Thông Tư 38.
Điểm mới đáng chú ý của Thông Tư 38 nằm ở việc bổ sung cơ chế cụ thể để xác định tổng giá trị vốn góp trong trường hợp việc góp vốn được thực hiện bằng nhiều loại đồng tiền. Theo đó, trường hợp góp vốn bằng nhiều loại đồng tiền, nhà đầu tư nước ngoài hoặc Doanh Nghiệp Thành Viên được lựa chọn một trong các đồng tiền góp vốn được ghi nhận trong tài liệu đầu tư làm đồng tiền quy đổi và phải sử dụng thống nhất đồng tiền này trong toàn bộ quá trình góp vốn. Tổng giá trị vốn góp sau quy đổi không được vượt quá mức vốn góp được xác định trong các tài liệu đầu tư có liên quan[25].
Quy định mới giúp xử lý rõ hơn trường hợp dự án có nhiều nhà đầu tư hoặc nhiều nguồn vốn bằng các đồng tiền khác nhau, đặc biệt khi biến động tỷ giá có thể làm phát sinh chênh lệch giữa tổng giá trị vốn thực tế đã chuyển và mức vốn góp được ghi nhận trong tài liệu đầu tư.
Ngoài ra, Thông Tư 38 đã bỏ yêu cầu bắt buộc phải mở Tài Khoản Vốn Đầu Tư bằng ngoại tệ. Theo Thông Tư 06, các đối tượng thuộc diện mở tài khoản vốn đầu tư trực tiếp phải mở tài khoản vốn đầu tư trực tiếp bằng ngoại tệ tại một ngân hàng được phép; trường hợp thực hiện đầu tư bằng đồng Việt Nam thì được mở thêm 01 tài khoản bằng đồng Việt Nam tại chính ngân hàng đó[26]. Trong khi đó, Thông Tư 38 cho phép các đối tượng thuộc diện áp dụng mở Tài Khoản Vốn Đầu Tư bằng ngoại tệ và/hoặc bằng đồng Việt Nam tại cùng một ngân hàng được phép[27]. Theo đó, trường hợp chỉ phát sinh hoạt động góp vốn và các giao dịch vốn bằng đồng Việt Nam, chủ thể mở tài khoản chỉ cần mở và duy trì Tài Khoản Vốn Đầu Tư bằng đồng Việt Nam mà không phải đồng thời mở tài khoản bằng ngoại tệ như trước đây.
5. Mở rộng cơ chế sử dụng vốn thu hồi, lợi nhuận và nguồn thu hợp pháp để tiếp tục đầu tư tại Việt Nam
Theo Thông Tư 06, trường hợp nhà đầu tư nước ngoài chuyển vốn đầu tư, lợi nhuận và các nguồn thu hợp pháp ra nước ngoài, việc chuyển tiền được thực hiện thông qua tài khoản vốn đầu tư trực tiếp[28]. Đối với vốn đầu tư, cơ chế này áp dụng trong các trường hợp như giảm vốn, chuyển nhượng dự án đầu tư, kết thúc, thanh lý hoặc chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư, hợp đồng BCC hoặc hợp đồng PPP. Bên cạnh đó, thay vì chuyển ra nước ngoài, Thông Tư 06 cho phép lợi nhuận được chia bằng đồng Việt Nam của nhà đầu tư nước ngoài được chuyển vào tài khoản vốn đầu tư trực tiếp tại Việt Nam để tăng vốn hoặc mở rộng hoạt động đầu tư tại Việt Nam.
Thông Tư 38 tiếp tục duy trì cơ chế này nhưng có bổ sung theo hướng linh hoạt hơn. Bên cạnh việc tiếp tục cho phép nhà đầu tư chuyển vốn, lợi nhuận và các nguồn thu hợp pháp ra nước ngoài thông qua Tài Khoản Vốn Đầu Tư, Thông Tư 38 bổ sung lựa chọn giữ lại các khoản tiền này tại Việt Nam để tiếp tục đầu tư. Cụ thể, trường hợp nhà đầu tư nước ngoài không chuyển vốn ra nước ngoài, khoản tiền này được chuyển từ Tài Khoản Vốn Đầu Tư sang tài khoản thanh toán của chính nhà đầu tư nước ngoài mở tại ngân hàng được phép để thực hiện dự án hoặc hoạt động đầu tư khác tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về đầu tư[29]. Cơ chế tương tự cũng được áp dụng đối với lợi nhuận và các nguồn thu hợp pháp mà nhà đầu tư không chuyển ra nước ngoài[30].
Như vậy, nhà đầu tư nước ngoài có nhu cầu tiếp tục đầu tư tại Việt Nam không còn phải thực hiện việc chuyển vốn, lợi nhuận hoặc nguồn thu hợp pháp ra nước ngoài trước rồi mới chuyển trở lại Việt Nam cho khoản đầu tư mới. Thay vào đó, các khoản tiền mà nhà đầu tư nhận được từ hoạt động đầu tư có thể được giữ lại trong hệ thống ngân hàng Việt Nam và chuyển trực tiếp sang tài khoản thanh toán của chính nhà đầu tư để sử dụng cho dự án hoặc hoạt động đầu tư khác. Tuy nhiên, việc giữ lại và chuyển tiền theo cơ chế này không thay thế các điều kiện và thủ tục áp dụng đối với khoản đầu tư tiếp theo; nhà đầu tư vẫn phải đáp ứng các yêu cầu tương ứng theo pháp luật về đầu tư.
Đáng chú ý, để bảo đảm cơ chế này có thể vận hành trên thực tế, Thông Tư 38 đồng thời sửa đổi Thông tư số 16/2014/TT-NHNN về việc sử dụng tài khoản ngoại tệ và tài khoản đồng Việt Nam của người cư trú, người không cư trú, theo hướng cho phép các tài khoản liên quan nhận tiền chuyển khoản từ Tài Khoản Vốn Đầu Tư[31].
6. Bổ sung cơ chế hoàn trả giá trị chuyển nhượng trong trường hợp giao dịch không hoàn thành
Một điểm mới có ý nghĩa thực tiễn đối với các giao dịch mua bán, sáp nhập và chuyển nhượng dự án là việc Thông Tư 38 bổ sung “các khoản hoàn trả giá trị chuyển nhượng trong trường hợp không hoàn thành chuyển nhượng” thành một khoản thu và một khoản chi độc lập trên Tài Khoản Vốn Đầu Tư, áp dụng đối với cả tài khoản bằng ngoại tệ và bằng đồng Việt Nam.[32].
Thông Tư 06 trước đây chưa có quy định riêng đối với khoản hoàn trả này. Trên thực tế, việc hoàn trả tiền cho bên nhận chuyển nhượng khi giao dịch không hoàn tất thường phải xử lý theo đầu mục “các khoản thu, chi hợp pháp khác”, dẫn đến cách tiếp cận không thống nhất giữa các ngân hàng. Quy định mới tạo cơ sở rõ ràng cho việc hoàn trả khoản thanh toán giá trị chuyển nhượng đã được thực hiện khi giao dịch sau đó không hoàn thành, đồng thời là nội dung các bên nên lưu ý khi thiết kế cơ chế thanh toán và hoàn trả trong hợp đồng chuyển nhượng.
7. Bổ sung và cụ thể hóa nghĩa vụ tuân thủ đối với ngân hàng được phép và nhà đầu tư
Thông Tư 38 bổ sung và cụ thể hóa một số nghĩa vụ tuân thủ có tác động trực tiếp đến việc mở và sử dụng Tài Khoản Vốn Đầu Tư tại ngân hàng. Theo đó: (i) ngân hàng được phép phải ban hành quy định nội bộ về hồ sơ, trình tự, thủ tục mở và sử dụng Tài Khoản Vốn Đầu Tư và về minh bạch dòng tiền, trong đó yêu cầu ghi rõ số tiền và mục đích chuyển tiền tại mỗi lệnh chuyển tiền, và phải thông báo công khai; (ii) ngân hàng được phép phải tuân thủ quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố; (iii) sau khi được cấp hoặc điều chỉnh IRC, ERC hoặc giấy tờ tương đương, tổ chức kinh tế có trách nhiệm bổ sung các tài liệu này cho ngân hàng nơi mở Tài Khoản Vốn Đầu Tư; và (iv) Ngân hàng Nhà nước Khu vực có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra, giám sát việc mở và sử dụng Tài Khoản Vốn Đầu Tư và xử lý các hành vi vi phạm[33].
Đáng chú ý, mặc dù Thông Tư 06 trước đây đã yêu cầu ngân hàng kiểm tra, lưu giữ chứng từ phù hợp với giao dịch thực tế và yêu cầu nhà đầu tư kê khai trung thực, đầy đủ nội dung giao dịch, Thông Tư 38 đã cụ thể hóa thêm yêu cầu ghi rõ mục đích chuyển tiền tại từng lệnh chuyển tiền[34]. Quy định này làm tăng yêu cầu về việc xác định và chứng minh mục đích của từng dòng tiền, đặc biệt đối với các giao dịch phát sinh trong giai đoạn trước khi được cấp IRC, khi Tài Khoản Vốn Đầu Tư chỉ được sử dụng cho các mục đích giới hạn như đề cập tại Mục 2 nêu trên.
8. Hoàn thiện cơ chế quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư dầu khí
Khác với các hoạt động đầu tư hoặc dự án đầu tư thông thường, trong đó doanh thu phát sinh từ hoạt động kinh doanh không được thực hiện qua tài khoản vốn đầu tư trực tiếp, Thông Tư 06 đã dành một cơ chế riêng cho hoạt động dầu khí. Theo đó, tài khoản vốn đầu tư trực tiếp được phép nhận doanh thu bán sản phẩm dầu khí trong nước sau khi thực hiện các nghĩa vụ tài chính và trừ các chi phí bằng đồng Việt Nam, đồng thời được phép chuyển tiền sang tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ của người điều hành dự án dầu khí để phục vụ hoạt động đầu tư[35].
Thông Tư 38 tiếp tục kế thừa cơ chế đặc thù áp dụng đối với dòng tiền từ hoạt động dầu khí tại Thông Tư 06, đồng thời hoàn thiện cơ chế quản lý ngoại hối đối với nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này. Cụ thể, bên cạnh việc tiếp tục cho phép Tài Khoản Vốn Đầu Tư nhận doanh thu bán sản phẩm dầu khí trong nước, Thông Tư 38 bổ sung nhà thầu là nhà đầu tư nước ngoài trong hợp đồng dầu khí vào nhóm chủ thể mở và sử dụng Tài Khoản Vốn Đầu Tư[36], đồng thời quy định cụ thể hơn đối với dòng tiền phát sinh từ chuyển nhượng dự án đầu tư trong hợp đồng dầu khí và chuyển nhượng quyền lợi tham gia, quyền và nghĩa vụ của nhà thầu trong hợp đồng dầu khí, cụ thể như sau:
(i) Làm rõ cơ chế thu, chi qua Tài Khoản Vốn Đầu Tư đối với các giao dịch chuyển nhượng đặc thù trong hoạt động dầu khí: Bên cạnh các giao dịch chuyển nhượng vốn và dự án đầu tư đã được điều chỉnh theo cơ chế chung, Thông Tư 38 quy định cụ thể việc thu, chi qua Tài Khoản Vốn Đầu Tư đối với khoản tiền phát sinh từ chuyển nhượng dự án đầu tư trong hợp đồng dầu khí và chuyển nhượng quyền lợi tham gia, quyền và nghĩa vụ của nhà thầu trong hợp đồng dầu khí[37]. Quy định này làm rõ cơ chế quản lý dòng tiền đối với các hình thức chuyển nhượng đặc thù của hoạt động dầu khí mà Thông Tư 06 chưa quy định cụ thể.
(ii) Bổ sung cơ chế về đồng tiền định giá và thanh toán đối với các giao dịch chuyển nhượng trong hoạt động dầu khí: Thông Tư 38 cho phép các giao dịch chuyển nhượng nêu trên được định giá và thanh toán bằng ngoại tệ nếu được thực hiện giữa các nhà đầu tư là người không cư trú với nhau hoặc giữa nhà đầu tư nước ngoài trong hoạt động dầu khí tại Việt Nam với nhà đầu tư là người cư trú[38]. Quy định mới này nhằm thống nhất cơ chế quản lý ngoại hối với quy định của pháp luật chuyên ngành dầu khí về chuyển nhượng quyền lợi tham gia, quyền và nghĩa vụ của nhà thầu và việc sử dụng ngoại tệ trong hoạt động dầu khí[39].
Cơ chế tại mục (ii) nêu trên cũng là một ngoại lệ so với nguyên tắc chung về hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam và nguyên tắc định giá, thanh toán bằng đồng Việt Nam đối với giao dịch chuyển nhượng vốn hoặc dự án đầu tư giữa người cư trú và người không cư trú[40].
9. Một số quy định chuyển tiếp cần lưu ý
Thông Tư 38 quy định cơ chế chuyển tiếp để xử lý các tài khoản và dòng tiền đã tồn tại trước ngày 18/8/2026, tức trước thời điểm Thông tư 38 có hiệu lực, như sau:
(i) Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã mở tài khoản thanh toán để nhận tiền góp vốn điều lệ trước ngày Thông Tư 38 có hiệu lực được chuyển số tiền góp vốn đó sang Tài Khoản Vốn Đầu Tư mở theo Thông Tư 38[41].
(ii) Nhà đầu tư nước ngoài trong hoạt động dầu khí đã sử dụng tài khoản thanh toán để thực hiện các giao dịch đầu tư trước ngày Thông Tư 38 có hiệu lực được tiếp tục sử dụng tài khoản hiện hữu cho đến khi hoàn tất việc mở Tài Khoản Vốn Đầu Tư, nhưng phải hoàn thành việc mở tài khoản mới trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày 18/8/2026[42].
(iii) Thông Tư 38 dành thời hạn 12 tháng để xử lý một số Tài Khoản Vốn Đầu Tư đã tồn tại nhưng thuộc trường hợp phải đóng theo cơ chế mới. Cụ thể, thời hạn chuyển tiếp này áp dụng đối với (x) tổ chức kinh tế không còn nhà đầu tư nước ngoài hoặc Doanh Nghiệp Thành Viên sở hữu cổ phần, phần vốn góp; và (y) tổ chức kinh tế đã mở Tài Khoản Vốn Đầu Tư trước IRC nhưng sau đó không được cấp IRC và đã hoàn trả số tiền góp vốn cho nhà đầu tư[43].
Các quy định chuyển tiếp này nhằm bảo đảm việc chuyển đổi sang cơ chế quản lý ngoại hối theo Thông Tư 38 được thực hiện thống nhất mà không làm gián đoạn các hoạt động đầu tư đang thực hiện.
10. Khuyến nghị
Thông Tư 38 có hiệu lực từ ngày 18/8/2026. Trong ngắn hạn, nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nên: (i) rà soát các Tài Khoản Vốn Đầu Tư hiện có để xác định trường hợp thuộc diện phải đóng tài khoản và thời hạn chuyển tiếp 12 tháng; (ii) đối với các giao dịch đang triển khai, xem xét lại tiến độ thành lập pháp nhân, góp vốn và thanh toán trên cơ sở cơ chế mở Tài Khoản Vốn Đầu Tư trước IRC và giới hạn sử dụng tài khoản trong giai đoạn này; (iii) làm việc trước với ngân hàng được phép về hồ sơ, chứng từ và mã mục đích áp dụng cho từng loại giao dịch, do quy định nội bộ của mỗi ngân hàng có thể khác nhau; và (iv) đối với các giao dịch chuyển nhượng, rà soát cơ chế thanh toán và hoàn trả giá trị chuyển nhượng, bao gồm cách xử lý các khoản đặt cọc hoặc tạm ứng (nếu có), để bảo đảm dòng tiền được thực hiện phù hợp với các giao dịch thu, chi được phép qua Tài Khoản Vốn Đầu Tư.
———-
[1] Điều 18.5 Thông Tư 38.
[2] Điều 1.2 và Điều 1.3 Thông Tư 38.
[3] Điều 1.1 Thông Tư 06; Điều 1.1 Thông Tư 38.
[4] Điều 2.5 Thông Tư 38.
[5] Điều 3.2(b) Thông Tư 06.
[6] Điều 11.3(a) và Điều 11.3(b) Thông Tư 03, sửa đổi Điều 3.2(b) và Điều 5.6(a) Thông Tư 06.
[7] Điều 11.4 Thông Tư 03.
[8] Điều 6.1(b), Điều 7.5(b)(i) và Điều 7.6 Thông Tư 38.
[9] Điều 93.2 Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam (“Nghị Định 329”).
[10] Điều 3.2(a) Thông Tư 06.
[11] Điều 6.1(a) Thông Tư 38.
[12] Điều 19.2 Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội (“Luật Đầu Tư 2025”); Điều 72.1, Điều 72.3 và Điều 72.4 Nghị định số 96/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư (“Nghị Định 96”).
[13] Điều 7.3 Thông Tư 38.
[14] Điều 7.3 Thông Tư 38.
[15] Điều 7.3 Thông Tư 38.
[16] Điều 8.1 Thông Tư 06.
[17] Điều 5.4 và Điều 7.3 Thông Tư 38.
[18] Điều 4.1 Thông Tư 38.
[19] Điều 4.1 và Điều 4.3 Thông Tư 06.
[20] Điều 30.2 Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17/6/2020 của Quốc hội, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 76/2025/QH15 ngày 17/6/2025 (“Luật Doanh Nghiệp 2020”).
[21] Điều 123.4 Luật Doanh Nghiệp.
[22] Điều 44.1(d) Nghị Định 168.
[23] Điều 4.5 Thông Tư 38.
[24] Điều 5.2(b) Thông Tư 06.
[25] Điều 4.1 Thông Tư 38.
[26] Điều 5.2(a) và Điều 5.2(c) Thông Tư 06.
[27] Điều 7.1 Thông Tư 38.
[28] Điều 9.1(a) và Điều 9.1(b) Thông Tư 06.
[29] Điều 11.2 Thông Tư 38.
[30] Điều 12.2 Thông Tư 38.
[31] Điều 18.4(a) và Điều 18.4(b) Thông Tư 38.
[32] Điều 8.1(c), Điều 8.2(i), Điều 9.1(c) và Điều 9.2(i) Thông Tư 38.
[33] Điều 14.2, Điều 14.4, Điều 15.3 và Điều 16.2 Thông Tư 38.
[34] Điều 11.3 và Điều 12.2 Thông Tư 06; Điều 14.2, Điều 14.3 và Điều 15.2 Thông Tư 38.
[35] Điều 6.1(g) và Điều 6.2(a) Thông Tư 06.
[36] Điều 6.4 Thông Tư 38.
[37] Điều 10.4 Thông Tư 38.
[38] Điều 13.2 Thông Tư 38.
[39] Điều 36 và Điều 58.1 Luật Dầu khí số 12/2022/QH15 ngày 14/11/2022; Điều 33 và Mẫu Hợp đồng chia sản phẩm dầu khí ban hành kèm theo Nghị định số 45/2023/NĐ-CP ngày 01/7/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Dầu khí.
[40] Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11 ngày 13/12/2005, được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 06/2013/UBTVQH13 ngày 18/3/2013; Điều 13.3 Thông Tư 38.
[41] Điều 19.1 Thông Tư 38.
[42] Điều 19.2 Thông Tư 38.
[43] Điều 19.3 Thông Tư 38.
————
Quyền miễn trừ trách nhiệm: Bài viết này được chuẩn bị bởi Công ty Luật TNHH PTN (“PTN Legal”) chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin tham khảo cho người đọc. PTN Legal không cam kết hay đảm bảo về tính chính xác hay đầy đủ của các thông tin này. Nội dung của bài viết có thể được thay đổi, điều chỉnh, hoặc cập nhật mà không cần báo trước. PTN Legal không chịu trách nhiệm về bất kỳ lỗi hoặc thiếu sót nào trong bài viết này hoặc thiệt hại phát sinh từ việc sử dụng bài viết này trong bất kỳ trường hợp nào. Vui lòng truy cập website của PTN Legal để xem các bài viết trước đây của chúng tôi tại đây.
Nếu người đọc có nhu cầu được nhận bài viết của PTN Legal qua email, vui lòng đăng ký thông tin tại đây.
Bài viết được chuẩn bị bởi Vũ Lê Hiền Thảo, Trợ lý Luật sư

